..:: Tạp chí khoa học Lâm nghiệp ::.. Đăng Ký   Đăng Nhập
Thứ Tư, 18/10/2017  Tìm Kiếm  
 Nội dung bài viết
Hệ thống các biện pháp kỹ thuật lâm sinh áp dụng cho rừng trồng sản xuất các tỉnh phía Bắc
Rừng trồng là hệ thống các lâm phần rừng được thiết lập từ đất chưa có rừng hoặc được tái tạo lại từ đất rừng đã bị khai thác trắng để lấy gỗ hay để canh tác nông nghiệp (nương rẫy). Trồng rừng là hoạt động của con người nhằm thiết lập mới hoặc tái tạo lại các lâm phần rừng với các mục đích khác nhau: sản xuất gỗ, lâm sản (rừng sản xuất), phòng hộ nông nghiệp, chắn gió, cát bay, ngăn mặn... (rừng phòng hộ) hay để bảo tồn các nguồn gen, các loài qui hiếm, có nguy cơ diệt chủng, để nghiên cứu khoa học... (rừng đặc dụng).

Khi rừng tự nhiên bị giảm sút và đe doạ thì loài người bắt tay vào trồng rừng. Ở nước ta, các bước sơ khai có tính chất thăm dò, thí nghiệm trong trồng rừng đã được tiến hành từ thời kỳ Pháp thuộc. Từ năm 1930-1941 cả nước đã trồng được 13.700 ha rừng (Bộ NN&PTNT, 2001). Trong thời kỳ 1945-1954, mặc dù bận trăm công ngàn việc của cuộc kháng chiến chống Pháp, Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà cũng đã có chính sách phát triển trồng cây gây rừng (Thông tư số 366 TTg ngày 12/3/1954) và vận động nhân dân trồng cây. Tuy nhiên, công tác trồng rừng thực sự phải kể từ năm 1954 và trải qua các thời kỳ sau đây: (i) Thời kỳ 1954-1975: qui mô trồng rừng nhỏ, khoảng 50.000/ha/năm. Các loài cây trồng rừng chủ yếu là thông, mỡ và bồ đề. Kỹ thuật trồng rừng trong giai đoạn này rất kém, giống cây trồng không được chọn lọc, tỷ lệ thành rừng rất thấp, khoảng 30%. (ii) Thời kỳ 1976-1985: qui mô trồng rừng cả nước đạt mức 160.000 ha/năm. Các loài cây chủ yếu: thông, mỡ, bạch đàn, tếch, lát, sao dầu. Kỹ thuật đã có một số tiến bộ, giống đã được chọn lọc ở một số loài. Tuy nhiên, tỷ lệ thành rừng cũng mới chỉ đạt khoảng 50%; năng suất rừng trồng rất thấp: 3-5 m3/ha/năm. (iii) Thời kỳ 1986-đến nay: qui mô trồng rừng bình quân khoảng 200.000 ha/năm. Tập đoàn cây trồng rừng đã được mở rộng lên hàng trăm loài; tuy nhiên, các loài có qui mô trồng lớn trên 100 ha cũng dừng lại trên dưới chục loài mà chủ yếu vẫn là bạch đàn, keo, thông và một số loài cây bản địa lá rộng. Kỹ thuật trồng rừng đã có một số tiến bộ, giống được cải thiện, các kỹ thuật cao trong sản xuất cây con đã được áp dụng. Năng suất rừng tăng lên rõ rệt: đạt 9-10 m3/ha/năm; có những nơi đạt trên 25m3/ha/năm. Tỷ lệ thành rừng khá hơn: 70-80%. Tóm lại, công tác trồng rừng ở nước ta ngày càng được chú trọng và trở thành hoạt động chính trong ngành lâm nghiệp thay cho hoạt động khai thác là chủ yếu trong các thời kỳ trước đây. Tính đến nay (2005) diện tích rừng trồng trong toàn quốc đã đạt con số 2 triệu ha (số chính thức có đến 31/12/2002 là 1.919.569 ha) (Bộ NN&PTNT, 2003).

Chuyên đề này nhằm mục đích hệ thống hoá các kỹ thuật lâm sinh áp dụng trong trồng rừng sản xuất ở vùng miền núi phía bắc Việt Nam.


Written By: Administrator Account
Date Posted: 24/01/2007
Number of Views: 798

Quay Về

Bản quyền thuộc về Viện Khoa Học Lâm Nghiệp Việt Nam
Địa chỉ : Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội - Điện thoại : 84.4.8.362.231; 84.4.8.363610 - Fax : 84.4.8.389.722 - Email : info@fsiv.org.vn